Dạy và học Địa lý
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nhật Bản

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thu Trang (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:45' 25-04-2011
Dung lượng: 35.0 KB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thu Trang (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:45' 25-04-2011
Dung lượng: 35.0 KB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
NHẬT BẢN
1. Tên gọi Nhật Bản
Nhật Bản có nghĩa là đất nước mặt trời mọc. Chữ Nhật và chữ hỏa trong tiếng Nhật đồng âm với nhau, Nhật Bản có tên gọi cũ là nước OA. Quan Hán Võ Đế đã dâng kim ấn 9 tỉnh cho quốc vương "Hán Ủy Nô". Thần Võ Thiên Hoàng (Năm 42 TCN) dựng nước "đại hóa" có nghĩa là "vùng đa sơn". Năm 625 thiên hoàng Hiến Đức đời 36 sau khi cải cách hóa đã thống nhất toàn lãnh thổ và đổi thành nước Nhật Bản. Trung Quốc gọi Nhật Bản là Đông Danh, Tam Đảo, Hải Đông, Nhật Biên.
2. Núi Phú Sĩ
Núi Phú Sĩ nằm trên bờ biển Đông, phía Nam đảo Benzhou của Nhật Bản, núi kéo dài trên 2 huyện Jinggang và Sanglin, phía Đông cách thủ đô Tôkyô 80km. Núi Phú Sĩ có hình chóp 4 cạnh rất đều đặn, hoàn chỉnh và điển hình, cao 3776m, chiếm diện tích 90.76 km2. Trên đỉnh núi tuyết đóng trắng xóa, tám ngọn xung quanh là ngọn Kiếm, ngọn Bạch Sơn, ngọn Cửu Tu Chí, ngọn Đại Nhật, ngọn Y Đậu, ngọn Thành Tựu, ngọn Câu và ngọn Phù Dung. Đường kính ngọn núi lửa gần 700m, sâu khoảng 220m, hình dáng giống như cái bát của sư, vì vậy người ta gọi là "ngự bát". Phía bên ngoài núi Phú Sĩ giống như núi lửa đã tắt, đứng yên hiền hòa nhưng chính quả núi này đã từng phun hàng trăm lần. Từ năm 781 đến nay, núi Phú Sĩ đã phun 18 lần, lần phun gần đây nhất là năm 1707, tro bụi bay đến bám đầy trên nóc nhà ngoại thành Tôkyô. Sau lần phun lửa đó, núi Phú Sĩ đi vào giấc ngủ cho đến ngày nay. Núi Phú Sĩ hùng vĩ tượng trưng cho sự tốt lành, núi Phú Sĩ uy nghi, cứng cỏi, tượng trưng cho tinh thần kiên cường, bất khuất của người dân Nhật Bản. Từ xưa đến nay, người dân Nhật Bản coi núi Phú Sĩ như một "Ngọn núi thiêng", "Ngọn núi thánh" bảo vệ Nhật Bản, nó luôn được người Nhật ca ngợi và suy tôn.
3. Tuổi thọ trung bình của người dân Nhật Bản
Theo thống kê của bộ Sức khỏe và phúc lợi năm 2000 thì tuổi thọ của nam giới là 77.64, nữ giới là 84.62. Đây là tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới. Tuổi thọ này sánh ngang với các nước Bắc Âu: Thụy Điển, Nauy, Ailen. Việc Nhật có thể sánh vai với các quốc gia này chứng tỏ sự phát triển vững mạnh về kinh tế và xã hội của Nhật Bản.
4. Trà đạo
Trà đạo là hoạt động uống trà đặc thù mang tính nghệ thuật, tính lịch sử, có tính cách trầm tĩnh, mang phong cách tình cảm riêng của người Nhật Bản mà đặc điểm chính là pha trà và thưởng thức trà. Trà đạo đã có hơn 500 năm lịch sử ở Nhật Bản. Người sáng lập trà đạo là một hòa thượng tên gọi Mu-ra-ta-shu-mit-su. Nghe nói ông đã tìm thấy hương vị tuyệt vời khi uống trà. Sau này, do các đệ tử của ông phát huy ảnh hưởng mà hình thành nên một môn nghệ thuật lưu truyền đến ngày nay.
Những người Nhật Bản thích uống trà thường thành lập nhóm nhỏ, chọn ngày mời nhau cùng thưởng thức. Số người tham gia mỗi lần không vượt quá bốn người và hoàn cảnh tổ chức một buổi Trà Đạo cũng có những quy định đặc biệt. Những gia đình khá giả thường xây ba căn phòng nhỏ trong vườn riêng của nhà mình, hai phòng nối liền nhau, trong đó một phòng là phòng trà - nơi tổ chức trà đạo, phòng kia đặt than, bộ đồ trà và vòi nước. Phòng còn lại là nơi nghỉ ngơi của khách, phải cách hai phòng kia một khoảng cách nhất định. Trong vườn có những con đường nhỏ lát đá, quanh co với hai bên trồng hoa và cây cảnh làm cho không gian trong vườn yên tĩnh và thanh nhã. Cách bố trí phòng trà cũng rất được chú ý. Thông thường là tranh treo của các danh họa nổi tiếng, có hoa cắm nghệ thuật để khách mời được thưởng thức nghệ thuật mang hương sắc cổ kính.
Thời gian tổ chức Trà Đạo chia làm 4 loại: Trà sáng (7 giờ sáng), sau ăn cơm (8 giờ sáng), giữa trưa (12 giờ trưa) và câu chuyện buổi tối (6 giờ tối). Khách mời đúng giờ đến phòng nghỉ, gõ vào chiếc chuông gỗ báo hiệu đã đến. Chủ nhà nghe tiếng chuông sẽ từ phòng trà ra đón khách. Trước cửa phòng trà có đặt một chiếc cối đá đựng đầy nước, khách phải rửa sạch tay trước khi vào phòng. Cửa ra vào có một ô cửa cao gần ba thước để khách tháo giầy đi vào. Khi bước vào phòng phải khom mình tỏ ý khiêm tốn. Nếu khách là võ sĩ phải tháo kiếm trước rồi mới
1. Tên gọi Nhật Bản
Nhật Bản có nghĩa là đất nước mặt trời mọc. Chữ Nhật và chữ hỏa trong tiếng Nhật đồng âm với nhau, Nhật Bản có tên gọi cũ là nước OA. Quan Hán Võ Đế đã dâng kim ấn 9 tỉnh cho quốc vương "Hán Ủy Nô". Thần Võ Thiên Hoàng (Năm 42 TCN) dựng nước "đại hóa" có nghĩa là "vùng đa sơn". Năm 625 thiên hoàng Hiến Đức đời 36 sau khi cải cách hóa đã thống nhất toàn lãnh thổ và đổi thành nước Nhật Bản. Trung Quốc gọi Nhật Bản là Đông Danh, Tam Đảo, Hải Đông, Nhật Biên.
2. Núi Phú Sĩ
Núi Phú Sĩ nằm trên bờ biển Đông, phía Nam đảo Benzhou của Nhật Bản, núi kéo dài trên 2 huyện Jinggang và Sanglin, phía Đông cách thủ đô Tôkyô 80km. Núi Phú Sĩ có hình chóp 4 cạnh rất đều đặn, hoàn chỉnh và điển hình, cao 3776m, chiếm diện tích 90.76 km2. Trên đỉnh núi tuyết đóng trắng xóa, tám ngọn xung quanh là ngọn Kiếm, ngọn Bạch Sơn, ngọn Cửu Tu Chí, ngọn Đại Nhật, ngọn Y Đậu, ngọn Thành Tựu, ngọn Câu và ngọn Phù Dung. Đường kính ngọn núi lửa gần 700m, sâu khoảng 220m, hình dáng giống như cái bát của sư, vì vậy người ta gọi là "ngự bát". Phía bên ngoài núi Phú Sĩ giống như núi lửa đã tắt, đứng yên hiền hòa nhưng chính quả núi này đã từng phun hàng trăm lần. Từ năm 781 đến nay, núi Phú Sĩ đã phun 18 lần, lần phun gần đây nhất là năm 1707, tro bụi bay đến bám đầy trên nóc nhà ngoại thành Tôkyô. Sau lần phun lửa đó, núi Phú Sĩ đi vào giấc ngủ cho đến ngày nay. Núi Phú Sĩ hùng vĩ tượng trưng cho sự tốt lành, núi Phú Sĩ uy nghi, cứng cỏi, tượng trưng cho tinh thần kiên cường, bất khuất của người dân Nhật Bản. Từ xưa đến nay, người dân Nhật Bản coi núi Phú Sĩ như một "Ngọn núi thiêng", "Ngọn núi thánh" bảo vệ Nhật Bản, nó luôn được người Nhật ca ngợi và suy tôn.
3. Tuổi thọ trung bình của người dân Nhật Bản
Theo thống kê của bộ Sức khỏe và phúc lợi năm 2000 thì tuổi thọ của nam giới là 77.64, nữ giới là 84.62. Đây là tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới. Tuổi thọ này sánh ngang với các nước Bắc Âu: Thụy Điển, Nauy, Ailen. Việc Nhật có thể sánh vai với các quốc gia này chứng tỏ sự phát triển vững mạnh về kinh tế và xã hội của Nhật Bản.
4. Trà đạo
Trà đạo là hoạt động uống trà đặc thù mang tính nghệ thuật, tính lịch sử, có tính cách trầm tĩnh, mang phong cách tình cảm riêng của người Nhật Bản mà đặc điểm chính là pha trà và thưởng thức trà. Trà đạo đã có hơn 500 năm lịch sử ở Nhật Bản. Người sáng lập trà đạo là một hòa thượng tên gọi Mu-ra-ta-shu-mit-su. Nghe nói ông đã tìm thấy hương vị tuyệt vời khi uống trà. Sau này, do các đệ tử của ông phát huy ảnh hưởng mà hình thành nên một môn nghệ thuật lưu truyền đến ngày nay.
Những người Nhật Bản thích uống trà thường thành lập nhóm nhỏ, chọn ngày mời nhau cùng thưởng thức. Số người tham gia mỗi lần không vượt quá bốn người và hoàn cảnh tổ chức một buổi Trà Đạo cũng có những quy định đặc biệt. Những gia đình khá giả thường xây ba căn phòng nhỏ trong vườn riêng của nhà mình, hai phòng nối liền nhau, trong đó một phòng là phòng trà - nơi tổ chức trà đạo, phòng kia đặt than, bộ đồ trà và vòi nước. Phòng còn lại là nơi nghỉ ngơi của khách, phải cách hai phòng kia một khoảng cách nhất định. Trong vườn có những con đường nhỏ lát đá, quanh co với hai bên trồng hoa và cây cảnh làm cho không gian trong vườn yên tĩnh và thanh nhã. Cách bố trí phòng trà cũng rất được chú ý. Thông thường là tranh treo của các danh họa nổi tiếng, có hoa cắm nghệ thuật để khách mời được thưởng thức nghệ thuật mang hương sắc cổ kính.
Thời gian tổ chức Trà Đạo chia làm 4 loại: Trà sáng (7 giờ sáng), sau ăn cơm (8 giờ sáng), giữa trưa (12 giờ trưa) và câu chuyện buổi tối (6 giờ tối). Khách mời đúng giờ đến phòng nghỉ, gõ vào chiếc chuông gỗ báo hiệu đã đến. Chủ nhà nghe tiếng chuông sẽ từ phòng trà ra đón khách. Trước cửa phòng trà có đặt một chiếc cối đá đựng đầy nước, khách phải rửa sạch tay trước khi vào phòng. Cửa ra vào có một ô cửa cao gần ba thước để khách tháo giầy đi vào. Khi bước vào phòng phải khom mình tỏ ý khiêm tốn. Nếu khách là võ sĩ phải tháo kiếm trước rồi mới
 






Các ý kiến mới nhất